Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Mark Esper sắp thăm Việt Nam

RFA
2019-10-17
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này
Hình minh họa. Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Mark Esper phát biểu tại một họp báo ở Paris, Pháp hôm 7/9/2019
Hình minh họa. Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Mark Esper phát biểu tại một họp báo ở Paris, Pháp hôm 7/9/2019
AFP

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Mark Esper sẽ đến thăm Việt Nam trong thời gian tới. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng xác nhận tin vừa nêu trong cuộc họp báo hôm 17/10/2019.

Theo bà Lê Thị Thu Hằng, chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper theo lời mời của Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch, tuy nhiên bà không cho biết thời điểm cụ thể.

“Thời gian qua, quan hệ quốc phòng Việt Nam - Mỹ tiếp tục phát triển phù hợp trên cơ sở cơ chế hợp tác hiện có, cũng như khuôn khổ quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam - Mỹ” - Bà Hằng cho biết thêm.

Trước đó, trong cuộc gặp giữa Thứ trưởng Quốc phòng, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh và ông Randall Schriver – Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng phụ trách an ninh khu vực Ấn Độ Thái Bình Dương, ông Schriver đã chuyển lời của Bộ trưởng Esper mong muốn đến thăm Việt Nam trong thời gian sớm nhất. Tuy nhiên, ông Schriver không cho biết thời gian sớm nhất là bao giờ.

Sau đó, tại một hội nghị ở Viện Brookings ở Washington hôm 1/10, ông Randall Schriver cũng cho biết Bộ trưởng Esper sắp đến thăm Việt Nam và sẽ gặp gỡ các đồng sự từ Nam Hàn và Nhật Bản. Ông Schriver cho biết đây là cuộc họp của các bộ trưởng ASEAN với các đối tác.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper, một cựu chiến binh và từng là chuyên gia vận động hành lang cho ngành công nghiệp quốc phòng, được Thượng viện Mỹ phê chuẩn hôm 23/7 để chính thức trở thành lãnh đạo Lầu Năm Góc.

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ James Mattis cũng từng tới Việt Nam hai lần vào năm 2018 trước khi ông từ chức.

Ý kiến (1)
Share

Nguyễn Nhơn

nơi gửi San Jose, CA

Đã đến lúc từ bỏ hán ngụy, “ ba Không hóa Có “ được chưa?

“Phải nói rõ rằng VN không làm đồng minh với bất kỳ ai trong cuộc chơi các nước lớn nhưng điều đó không có nghĩa VN và Mỹ không có những hình thức hợp tác khác nhau, trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm thúc đẩy hòa bình, ổn định tại khu vực.” quan điểm của Hoàng Việt (ĐH Luật TP.HCM) trên báo Pháp luật Tp. HCM.
Cho đến nay, quan điểm “không liên minh” nhưng xác lập một cơ chế “hợp tác an ninh” là điều mà Việt Nam đang hướng tới.

… Trở lại vấn đề Biển Đông và chủ quyền Việt Nam, theo Dự án Đại Sự Ký Biển Đông cập nhật vào sáng ngày 19/10 thì trong ngày thứ 109 ở khu vực, tàu Hải Dương Địa Chất 8 Tàu Hải Dương Địa Chất 8 đã hoàn thành đường khảo sát 4.3.11 và hiện giờ đang thực hiện đường 4.3.12 hướng về bờ biển Việt Nam trong khu vực tỉnh Bình Định, sắp gần sang khu vực tỉnh Quảng Ngãi.
Như vậy, tình hình chủ quyền không những không giảm đi, mà liên tục kéo dài với sự xâm phạm ngày càng sâu vào vùng bờ biển của Việt Nam.
Tờ Thời Báo Ấn Độ ngày 19/10 trong một bình luận cho rằng, sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Bắc Kinh đã “khiến Hà Nội phải suy ngẫm về điều không thể tưởng tượng: một liên minh với Mỹ”.

…. Hà Nội coi hành động của Trung Quốc như đưa nhóm tàu khảo sát và một đội tàu bảo vệ bờ biển vào trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa là một nỗ lực để kiểm tra phản ứng của Việt Nam và quốc tế. Và Việt Nam lo ngại mục tiêu cuối cùng của hoạt động của Trung Quốc là ép buộc các nước yêu sách như Việt Nam trở thành đối tác của Bắc Kinh, bằng cách chấp nhận các cuộc thăm dò, khai thác chung của Trung Quốc ở vùng Biển Đông.
Trong một bài viết gần đây của ông Vũ Ngọc Hoàng, một cựu quan chức của Đảng, vốn được cho là vẫn có ảnh hưởng với lãnh đạo cao đương nhiệm, đã thúc giục chính phủ kiện Trung Quốc.
Và ông Hoàng cũng viết rằng để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam, cần xem xét một liên minh quân sự [2]. Dù không nói trực tiếp, nhưng ông ám chỉ về liên minh với Mỹ.
“Cần kết đối tác chiến lược với quốc gia “đã lên tiếng sớm nhất và mạnh mẽ nhất để ủng hộ chủ quyền của Việt Nam”. Bởi vì quốc gia này “xứng đáng hơn nhiều so với “đối tác chiến lược toàn diện” kia đang xâm lăng đất nước ta”
Quan điểm của ông Hoàng là có tính bước ngoặt, trong bối cảnh Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper sắp có chuyến thăm Việt Nam. Và nó cho thấy tính cấp bách của vấn đề chủ quyền Việt Nam, đến mức một người lý luận bảo vệ Đảng đã phải chuyển bước ngoặt đặt “Tổ Quốc trên hết”.
Và khi cánh cửa “quan hệ mật thiết của hai Đảng, hai nhà nước” khép lại, thì không thỏa hiệp chủ quyền với Trung Quốc cũng chỉ có một con đường duy nhất, liên minh với Mỹ với cấp độ đầu tiên: tăng cường hợp tác an ninh nhằm đảm bảo tự do hàng hải, chống lại cưỡng ép các nước láng giềng và chiến lược kinh tế trấn lột có tính toán của Bắc Kinh.
Nguyễn Hiền VNTB

Đây, triển vọng diễn tiến đi đến sự thể “ cánh cửa “quan hệ mật thiết của hai Đảng, hai nhà nước” khép lại “:

1/ Cho đến nay, quan điểm “không liên minh” nhưng xác lập một cơ chế “hợp tác an ninh” là điều mà Việt Nam đang hướng tới.
2/ Tờ Thời Báo Ấn Độ ngày 19/10 trong một bình luận cho rằng, sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Bắc Kinh đã “khiến Hà Nội phải suy ngẫm về điều không thể tưởng tượng: một liên minh với Mỹ”.
3/ Và ông Hoàng cũng viết rằng để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam, cần xem xét một liên minh quân sự [2]. Dù không nói trực tiếp, nhưng ông ám chỉ về liên minh với Mỹ.
Quan điểm của ông Hoàng là có tính bước ngoặt, trong bối cảnh Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper sắp có chuyến thăm Việt Nam. Và nó cho thấy tính cấp bách của vấn đề chủ quyền Việt Nam, đến mức một người lý luận bảo vệ Đảng đã phải chuyển bước ngoặt đặt “Tổ Quốc trên hết”.

Sách vẹm có chữ của tên phản quốc nguyễn văn linh:
“ Biết rằng:
- Đi với trung cọng là mất nước
- Đi với Mỹ thì mất đảng.
Nhưng thà mất nước còn hơn mất đảng “
Hiện tại, các tên thừa kế, trước sự “ ép chế “ khôn bề chịu thấu của đàn anh tàu cọng, bị nhân dân phản đối mạnh mẻ, tham mưu vũ ngọc hoàng mới mách nước lộn ngược:
Tổ Quốc là trên hết! Thà đi với Mỹ.
Liệu bọn tôi tớ Ba Đình có nghe theo lời khuyến cáo của ngọc hoàng hay không?
Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược hay ba không hóa có?
Phó Thủ tướng Việt Nam tố cáo Trung Quốc vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông, và cáo buộc nước này tiến hành thăm dò dầu khí bất hợp pháp trong vùng biển tranh chấp, cổng thông tin chính thức của chính phủ Việt Nam cho biết hôm 1/8.
Theo nguồn tin này, Phó Thủ tướng-Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh trong cuộc họp kín với người đồng cấp Trung Quốc Vương Nghị tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52 (AMM-52) ở Bangkok vào chiều 31/7, đã đả kích Bắc Kinh vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông, trong khu vực thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Tại cuộc họp cấp bộ trưởng ASEAN-Trung Quốc, ông Phạm Bình Minh, trong bài phát biểu của mình với Bộ trưởng Ngoại giáo Trung Quốc Vương Nghị, đã bày tỏ “quan ngại nghiêm trọng” về hoạt động khảo sát của tàu thăm dò Hải Dương Địa Chất 8 và các tàu hộ tống kể từ đầu tháng 7 tới nay ở khu vực Bãi Tư Chính, tiếp theo các hoạt động cải tạo bồi đắp quy mô lớn và quân sự hóa các cấu trúc trên Biển Đông.
“Các diễn biến này làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng và ảnh hưởng trực tiếp tới hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, vi phạm DOC và đi ngược lại cam kết duy trì môi trường thuận lợi cho đàm phán COC”, cổng thông tin chính phủ dẫn lời Phó Thủ tướng Việt Nam nói.
( VN lên án TQ ‘vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền’ tại hội nghị AMM-52 )

"Vun đắp cho tình hữu nghị bền lâu" là ước nguyện của Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội VC đối với TC.
Trong khi quân xâm lược Tàu cộng ngang nhiên xâm phạm chủ quyền của Việt Nam thì ông tướng Ngô Minh Tiến đã tuyên bố “Chúng tôi cũng tin tưởng rằng sự hợp tác chặt chẽ giữa quân đội hai nước Việt Nam - Trung Quốc không chỉ mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước Việt-Trung mà còn góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định cùng phát triển”.
Ngô Minh Tiến đã đến tham dự buổi lễ kỷ niệm 92 năm thành lập Quân đội của Tàu tại Tòa đại sứ Tàu ở Hà Nội và tuyên bố sự hợp tác chặt chẽ, vun đắp tình hữu nghị bền lâu là "tâm nguyện của nhân dân và quân đội Việt-Trung".
( CTV Danlambao - Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Việt cộng bắt tay với kẻ thù Tàu cộng )

Vì sao mà có cảnh trống đánh xuôi, kèn thổi ngược như vậy?
Nói một cách đơn giản, khỏi cần biện luận thì như vầy:

Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Liên xô Mikhail Gorbachev:
"Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng Cộng Sản.
Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng: Đảng Cộng Sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá."

Cái nòi cọng sản thì bản chất là dối trá, “ nói vậy mà không phải vậy “ hay “ nói một đường làm một nẻo. “
Tuy nhiên ở đây, trong trường hợp lâm vào thế kẹt giữa hai làn đạn, vẹm cũng phải tìm đường xoay trở:
Sáng chế ra cái học thuyết Quốc phòng “ Ba Không. “
Chủ trương « Ba Không » là gì ? Có từ bao giờ ?
Một mặt, Hà Nội đàm phán trực tiếp với Bắc Kinh về những biện pháp xây dựng lòng tin nhằm ngăn ngừa Trung Quốc thống trị toàn bộ Biển Đông. Mặt khác, Việt Nam mạnh mẽ chống lại Bắc Kinh qua việc thúc đẩy các mối quan hệ quốc phòng với những cường quốc lớn can dự vào việc duy trì trật tự quốc tế dựa trên pháp luật.
Tuy nhiên, về điểm thứ hai này, điều mà người ta thường nghe thấy là chẳng có ai lấy làm thích thú về việc Việt Nam duy trì cân bằng do các thách thức gắn liền với chủ trương « Ba Không » trong chính sách quốc phòng của nước này – đó là không tham gia các liên minh quân sự, không đi theo bất kỳ nước nào để chống lại một nước khác và không có các căn cứ quân sự của nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam.
Chính sách « Ba Không » lần đầu tiên xuất hiện trong sách trắng về quốc phòng của Việt Nam năm 1998 và sau đó, tái xuất hiện trong sách trắng năm 2004 và gần đây nhất là năm 2009. Chính sách này cũng được nêu ra trong Luật Quốc Phòng mới của Việt Nam, được thông qua và có hiệu lực từ 01/01/2019. Chính sách « Ba Không » rất có thể lại xuất hiện trong sách trắng về quốc phòng sắp tới, một khi tài liệu này được công bố.
Như vậy, chính sách QPBK chính thức có hiệu lực từ 01/01/2019. Vậy, tại sao tên Phó Tổng tham mưu trưởng lại rêu rao “ “Chúng tôi cũng tin tưởng rằng sự hợp tác chặt chẽ giữa quân đội hai nước Việt Nam - Trung Quốc không chỉ mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước Việt-Trung mà còn góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định cùng phát triển”.
Đó cũng là do cái cách hán ngụy “ vận dụng sáng tạo “ chính sách ba không.

Việt Nam áp dụng chủ trương « Ba Không » như thế nào ?
Quả thực là điều này luôn luôn gây ra những khó khăn, nhưng nhìn chung, Washington có thể yên tâm là với vỏ bọc bên ngoài như vậy, chính sách « Ba Không » trên thực tế giúp mở rộng khả năng hành động – tức là « Có » - trong lĩnh vực hợp tác quốc phòng.
Về nguyên tắc thứ nhất, « không tham gia các liên minh quân sự », Việt Nam chủ yếu tạo ra một kẽ hở ngay bên trong nguyên tắc này. Mục đích cuối cùng của Hà Nội là tránh công khai nói đến các quan hệ quân sự như là một sự thỏa thuận theo đó Việt Nam có thể hỗ trợ một quốc gia khác nếu họ bị tấn công và ngược lại.
Chừng nào việc nói đến các trao đổi hợp tác quân sự vẫn chỉ là chung chung thì Việt Nam dường như càng sẵn sàng mở rộng hơn sự hợp tác. Ở một mức độ hợp tác nào đó về quân sự và quốc phòng, Hà Nội dùng các thuật ngữ khuôn mẫu sẵn có mà không giải thích hoặc định nghĩa.
Đó là các cụm từ quan hệ đối tác « chiến lược toàn diện », « chiến lược » và « toàn diện ». Mức cao nhất là quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Việt Nam ký ba hiệp định loại này với các đối tác là Nga (2001), Ấn Độ (2007) và Trung Quốc (2008). Đáng chú ý là Trung Quốc có thêm quy chế « đối tác đặc biệt », và điều này là đương nhiên, trong « hợp tác chiến lược toàn diện» giữa hai nước.
Việt Nam cố gắng duy trì thế cân bằng để chống lại Bắc Kinh tại Biển Đông. Do vậy, hợp tác quốc phòng Việt Nam-Trung Quốc được điều chỉnh để tập trung phát triển các khía cạnh khác trong quan hệ song phương – chủ yếu là kinh tế vì Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam.

Nguyên tắc « Không » thứ hai, tức là không đi theo bất kỳ nước nào để chống lại một nước khác, rất khó để luồn lách và là yếu tố chính giải thích sự ngập ngừng, miễn cưỡng của Việt Nam hợp tác quốc phòng toàn diện với Washington.
Tuy vậy, cũng giống như chủ trương « không tham gia các liên minh quân sự », bản thân Hà Nội đã « bẻ cong » đáng kể nguyên tắc này. Ví dụ, hồi tháng 05/2018, Việt Nam đã đón tiếp Ấn Độ tham gia một cuộc tập trận chung hải quân chưa từng có tiền lệ, ở Biển Đông. Thật là khó mà nói rằng cuộc tập trận này nhằm răn đe một nước nào đó, ngoài Trung Quốc.
Lập luận này cũng có thể đúng, liên quan đến chuyến viếng thăm của hàng không mẫu hạm Mỹ. Trong cả hai trường hợp, khả năng tái diễn tương đối hiếm. Tuy vậy, các sự kiện này có thể xẩy ra nhiều hơn nếu như Trung Quốc gia tăng thách thức các đòi hỏi chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông.
Việc chấp nhận nguyên tắc « không đi theo bất kỳ nước nào để chống lại một nước khác » trở nên đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hợp tác khu vực giúp cho Việt Nam có vị thế phù hợp với cơ chế Đối Thoại An Ninh Bốn Bên – thường được gọi là Bộ Tứ. Đó là đối thoại về chính sách ngoại giao và quốc phòng giữa các nước cùng hệ tư tưởng dân chủ – Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản và Ấn Độ – tìm cách giữ cho vùng biển Ấn Độ-Thái Bình Dương được tự do và mở cửa, chống lại sự cưỡng bức của Trung Quốc.
Việt Nam có thể là đối tác đối thoại lý tưởng của Bộ Tứ, do quy mô tranh chấp của Việt Nam với Trung Quốc cũng như việc nước này thể hiện mong muốn có một sự cân bằng để chống lại Bắc Kinh. Tuy nhiên, chính sách «không đi theo bất kỳ nước nào để chống lại một nước khác » dường như gạt bỏ khả năng Việt Nam tham gia Bộ Tứ, vả lại Việt Nam cũng không muốn.
Một nghiên cứu gần đây về nhận thức của Bộ Tứ về Đông Nam Á kết luận rằng nhìn chung, Việt Nam (cùng với Philippines) đánh giá tốt về cơ chế tham vấn này. Tuy nhiên, Việt Nam không thể chính thức tham gia cơ chế do chính sách « Ba Không », nhưng có rất nhiều khả năng Việt Nam tham gia với tư cách là đối tác đối thoại Kênh 1.5 (đối thoại ở cấp quan chức chính phủ và cả những chính khách không trong chính phủ) hoặc là quan sát viên.

Cuối cùng, nguyên tắc « Không » thứ ba, « không có căn cứ quân sự của nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam » hoàn toàn không đúng với việc Liên Xô (trước đây) và Nga sử dụng căn cứ hải quân chiến lược ở Biển Đông, đặt tại Vịnh Cam Ranh trong giai đoạn 1978 đến 2002. Từ năm 1978, Hà Nội đã cho Matxcơva thuê căn cứ này và Nga chỉ rút khỏi nơi đây năm 2002. Tuy nhiên, từ năm 2015, Nga vẫn còn cho tiếp liệu các máy bay quân sự của họ tại cảng Cam Ranh cho đến khi Mỹ tiếp cận được Matxcơva và các hoạt động này lặng lẽ chấm dứt.
Vào cùng thời điểm đó, Việt Nam dường như cũng đã cho phép các nhân viên kỹ thuật Nga tới Vịnh Cam Ranh để hỗ trợ huấn luyện các thủy thủ Việt Nam sử dụng và bảo trì các tàu ngầm lớp Kilo do Nga đóng. Cho dù người ta không biết phải chăng đó là các chuyên gia dân sự có kinh nghiệm quân sự hay là các chuyên gia quân sự mặc quân phục hay là có cả hai loại chuyên gia, nhưng các trường hợp này cho thấy giới lãnh đạo Việt Nam tỏ ra linh hoạt đối với nguyên tắc « Không » thứ ba nếu như việc hợp tác đáp ứng các nhu cầu của họ trong lĩnh vực quốc phòng.
Rất may là tương lai của Mỹ tại Việt Nam không cần phải xem xét nghiên cứu. Tuy vậy, Washington rõ ràng quan tâm đến việc ghé vào các quân cảng ở Việt Nam và trong lĩnh vực này, Hà Nội đưa ra tín hiệu rõ ràng là hoạt động này không vi phạm nguyên tắc « Không » thứ ba. Thực vậy, Hà Nội đã đón tiếp nhiều chuyến viếng thăm của hải quân nước ngoài bao gồm các tàu chiến của Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Úc, Pháp, Anh, Canada, New Zealand, Nga, Trung Quốc và các nước khác.
Lợi ích của « Ba Không » trong quan hệ Mỹ - Việt ?
Tóm lại, chính sách « Ba Không » không cứng nhắc chút nào và có nhiều điểm mập mờ - « vùng xám » - và diễn giải liên quan. Nếu Hà Nội thấy một hợp tác quốc phòng cụ thể nào có lợi thì họ sẽ tìm ra cách diễn giải cho phù hợp với chính sách « Ba Không » hoặc tiến hành một cách tương đối lặng lẽ. Chính sách cân bằng để chống lại Trung Quốc ở Biển Đông dường như giúp cho Mỹ và các quốc gia khác cùng chung quan điểm, có khả năng hành động tương đối rộng lớn.
Không cần phải tìm kiếm đâu xa hơn mà nhìn vào quyết định của Hà Nội hồi đầu tháng Giêng năm 2019, bày tỏ sự ủng hộ đối với chiến dịch bảo đảm tự do lưu thông hàng hải (FONOP) mới nhất của Washington trong vùng quần đảo Hoàng Sa có tranh chấp. Quả thực là trong quá khứ, các lãnh đạo Việt Nam đã ủng hộ quyền của Washington tiến hành FONOP, thế nhưng việc tuyên bố ủng hộ ngay sau khi tàu chiến Mỹ USS McCampbell thực hiện chiến dịch tuần tra đã tạo cảm giác là cặp đôi Mỹ và Việt Nam phối hợp chính sách với nhau. Người ta có thể biện luận rằng điều này đi ngược lại nguyên tắc « không đi theo bất kỳ nước nào để chống lại một nước khác », ấy vậy mà Hà Nội vẫn làm.
Trong tương lai, người ta sẽ thấy Việt Nam vận dụng nguyên tắc « Ba Không » thông thoáng hơn, đặc biệt là nếu Trung Quốc gia tăng tuần tra, bồi đắp đảo nhân tạo và quân sự hóa nhiều hơn các thực thể có tranh chấp, thông báo lập vùng nhận diện phòng không hoặc hung hăng tranh giành các nguồn tài nguyên và thủy sản. Bất luận thế nào, Việt Nam ngày càng có xu hướng chấp nhận các cam kết hợp tác quốc phòng và chắc chắn các hợp tác này được giải thích công khai là mang tính phòng thủ chứ không phải là tấn công. Bảo vệ tổ quốc Việt Nam là chủ đề chủ chốt trong hầu hết các tài liệu sách báo về quốc phòng và của đảng Cộng Sản.
Do vậy, để không bị cản trở bởi nguyên tắc « Ba Không », Hoa Kỳ có thể sẽ thấy các hình thức hợp tác quốc phòng « mềm dẻo » hơn ví dụ hỗ trợ Việt Nam phát triển năng lực nhận thức, hiểu biết về biển hoặc giúp bổ sung khả năng tuần duyên sau khi Hoa Kỳ bán cho Việt Nam tàu tuần duyên cũ lớp Hamilton. Các hình thức hợp tác khác, như tập trận chung, khó có thể tiến hành trong tương lai gần, nhưng cũng không phải là bất khả nếu như các hành vi tồi tệ của Bắc Kinh vẫn tiếp diễn.
( Chính sách quốc phòng « Ba Không » của Việt Nam tạo dễ dàng cho việc nói « Có » rfi 25/01/2019 )
Trên đây là phân tích của rfi về chính sách Quốc phòng Ba Không và cách vận dụng của hán ngụy việt cọng nhằm đi dây giữa Mỹ – tàu.
Nói cho thật, trong tình cảnh bị trói chặt vì 16 chữ vàng “ cùng chung vận mạng “, hán ngụy dù có mưu thuật, tráo trở lẽ nào cũng khó đi một đường bôi mặt chống tàu bành trướng. Chỉ có thể tỏ vẻ “ ngã theo Mỹ “ để đở đòn mỗi khi bị “ anh cả chệt “ húng hiếp quá đáng.
Lần nầy, nột quá rồi, có biết liều mạng từ bỏ “ đồng chí chệt “, thôi đi dây, quay lại bắt tay với Hoa Kỳ làm thế ỷ giốc giữ nước được chưa?
Hay là cứ ù lì, đợi ngày nhân dân phẫn uất vùng dậy “ thịt “ cả lũ.

Nguyễn Nhơn
Thu 19/10/2019

Bảo vệ chủ quyền: liên minh hay xác lập cơ chế hợp tác an ninh?
VNTB) - “Phải nói rõ rằng VN không làm đồng minh với bất kỳ ai trong cuộc chơi các nước lớn nhưng điều đó không có nghĩa VN và Mỹ không có những hình thức hợp tác khác nhau, trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm thúc đẩy hòa bình, ổn định tại khu vực.” quan điểm của Hoàng Việt (ĐH Luật TP.HCM) trên báo Pháp luật Tp. HCM.
Cho đến nay, quan điểm “không liên minh” nhưng xác lập một cơ chế “hợp tác an ninh” là điều mà Việt Nam đang hướng tới.
Trong tuyên bố ngoại giao vào ngày 17/10, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng tiếp tục “nhấn mạnh nguyên tắc tự kiềm chế, không quân sự hoá, không có các hành động làm phức tạp tình hình, gia tăng căng thẳng, không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực, giải quyết hoà bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982”.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, Trung Quốc vẫn đang hoàn tất những giai đoạn cuối cùng liên quan đến thực thi “đường chín đoạn” mà nước này tuyên bố, bỏ qua cái gọi là “tự kiềm chế, không quân sự hóa, và không có các hành dộng làm phức tạp tình hình”.
Cụ thể hơn, khi được hỏi về sự kiện Malaysia rút bộ phim hoạt hình của DreamWorks Abominable khi phát hiện đường 9 đoạn trong một phân cảnh, cũng như Việt Nam đã cấm chiếu rạp bộ phim nay. Phát ngôn viên Bộ ngoại giao Trung Quốc, Cảnh Sảng tuyên bố: Tôi không biết tình hình cụ thể mà bạn đề cập. Nhưng vị trí (chủ quyền đường lưỡi bò) Trung Quốc trên Biển Đông là nhất quán và rõ ràng [1].
Lý giải sự quyết đoán này của Bắc Kinh, bấp chấp nó có thể khiến quan hệ với các nước trong ASEAN bị đóng băng. Nhiều quan điểm cho rằng, đó là hệ quả tất yếu về sự lên ngôi của chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc từ năm 2000, với sự thể hiện định kỳ về sức mạnh và sự đối kháng đối với các nước đối thủ. Và những người yêu nước nhiệt thành Trung Quốc đòi hỏi chính quyền nước này một chính sách đối ngoại và quân sự quyết đoán hơn.
Trở lại vấn đề Biển Đông và chủ quyền Việt Nam, theo Dự án Đại Sự Ký Biển Đông cập nhật vào sáng ngày 19/10 thì trong ngày thứ 109 ở khu vực, tàu Hải Dương Địa Chất 8 Tàu Hải Dương Địa Chất 8 đã hoàn thành đường khảo sát 4.3.11 và hiện giờ đang thực hiện đường 4.3.12 hướng về bờ biển Việt Nam trong khu vực tỉnh Bình Định, sắp gần sang khu vực tỉnh Quảng Ngãi.
Như vậy, tình hình chủ quyền không những không giảm đi, mà liên tục kéo dài với sự xâm phạm ngày càng sâu vào vùng bờ biển của Việt Nam.
Tờ Thời Báo Ấn Độ ngày 19/10 trong một bình luận cho rằng, sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Bắc Kinh đã “khiến Hà Nội phải suy ngẫm về điều không thể tưởng tượng: một liên minh với Mỹ”.
Trước đó, vào tháng 5/2014, khi Trung Quốc lần đầu tiên gửi giàn khoan vào vùng biển Việt Nam, các cuộc biểu tình công khai tự phát đã nổ ra dẫn đến bạo lực đối với các doanh nghiệp Trung Quốc và Đài Loan. Đó không phải là hình ảnh mà Việt Nam muốn gửi đến các nhà đầu tư nước ngoài. Và chính phủ Hà Nội đã thành công trong kiềm chế sự phẫn nộ của người dân, và trong một cuộc họp riêng được tổ chức tại Hà Nội ngay trước một hội nghị quan trọng của Đảng, một số cựu quan chức và học giả cao cấp đã lên án sự xâm lược của Trung Quốc và khiển trách phản ứng yếu ớt của chính phủ.
Sự phẫn nộ sau ba tháng căng thẳng đã khiến Tổng Bí thư và Chủ tịch nước Việt Nam cam kết công khai bảo vệ quyền lực chủ quyền quốc gia. Các nguồn tin cho biết, đối đầu quân sự với Trung Quốc không phải là một lựa chọn, Chính phủ có thể quyết định tìm kiếm sự hỗ trợ quốc tế bằng cách đưa Trung Quốc ra tòa án quốc tế ở The Hague vì vi phạm Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển.
Hà Nội coi hành động của Trung Quốc như đưa nhóm tàu khảo sát và một đội tàu bảo vệ bờ biển vào trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa là một nỗ lực để kiểm tra phản ứng của Việt Nam và quốc tế. Và Việt Nam lo ngại mục tiêu cuối cùng của hoạt động của Trung Quốc là ép buộc các nước yêu sách như Việt Nam trở thành đối tác của Bắc Kinh, bằng cách chấp nhận các cuộc thăm dò, khai thác chung của Trung Quốc ở vùng Biển Đông.
Trong một bài viết gần đây của ông Vũ Ngọc Hoàng, một cựu quan chức của Đảng, vốn được cho là vẫn có ảnh hưởng với lãnh đạo cao đương nhiệm, đã thúc giục chính phủ kiện Trung Quốc.
Và ông Hoàng cũng viết rằng để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam, cần xem xét một liên minh quân sự [2]. Dù không nói trực tiếp, nhưng ông ám chỉ về liên minh với Mỹ.
“Cần kết đối tác chiến lược với quốc gia “đã lên tiếng sớm nhất và mạnh mẽ nhất để ủng hộ chủ quyền của Việt Nam”. Bởi vì quốc gia này “xứng đáng hơn nhiều so với “đối tác chiến lược toàn diện” kia đang xâm lăng đất nước ta”
Quan điểm của ông Hoàng là có tính bước ngoặt, trong bối cảnh Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper sắp có chuyến thăm Việt Nam. Và nó cho thấy tính cấp bách của vấn đề chủ quyền Việt Nam, đến mức một người lý luận bảo vệ Đảng đã phải chuyển bước ngoặt đặt “Tổ Quốc trên hết”.
Và khi cánh cửa “quan hệ mật thiết của hai Đảng, hai nhà nước” khép lại, thì không thỏa hiệp chủ quyền với Trung Quốc cũng chỉ có một con đường duy nhất, liên minh với Mỹ với cấp độ đầu tiên: tăng cường hợp tác an ninh nhằm đảm bảo tự do hàng hải, chống lại cưỡng ép các nước láng giềng và chiến lược kinh tế trấn lột có tính toán của Bắc Kinh.
Tham khảo
 [1] https://www.fmprc.gov.cn/mfa_eng/xwfw_665399/s2510_665401/t1708998.shtml
[2] http://vanviet.info/van-de-hom-nay/suy-nghi-tiep-theo-ng-vu-ngoc-hong-bn-ve-bien-dng/

20/10/2019 22:13

Xem toàn trang